Tóm tắt: Bài viết bàn về hiện tượng tỉnh lược phương tiện xưng hô ngôi thứ hai trong giao tiếp tiếng Nhật. Thực tế là, khác với tiếng Việt vốn sử dụng xưng hô làm phương tiện lịch sự, tiếng Nhật cho phép tỉnh lược xưng hô, thay vào đó là các biểu hiện ngôn ngữ khác. Trong khi đó, người Việt Nam do chịu ảnh hưởng từ tiếng mẹ đẻ, khi giao tiếp bằng tiếng Nhật có thể mắc lỗi sử dụng phương tiện xưng hô nhiều hơn mức độ cần thiết. Do đó, chúng tôi nhận thấy xem xét hiện tượng tỉnh lược xưng hô ở tiếng Nhật diễn ra như thế nào là việc có ích, nhằm góp thêm một tài liệu tham khảo cho người dạy, người học. Đầu tiên, bài viết khái quát hiện tượng xưng hô và tỉnh lược phương tiện xưng hô nhìn từ biểu hiện ngôn ngữ và quy tắc văn hóa. Tiếp theo, bài viết xem xét một số biểu hiện cụ thể trong tác phẩm văn học tiếng Việt và cách chuyển dịch trong bản dịch tiếng Nhật như một minh chứng của hiện tượng này. Từ đây bài viết nêu ra một số lưu ý trong dạy và học tiếng Nhật nói chung, từ xưng hô ngôi thứ hai trong tiếng Nhật nói riêng.
Từ khóa: tỉnh lược, xưng hô ngôi thứ hai, quy tắc lịch sự, bản nguồn, bản dịch
Abstract: This paper discusses the ellipsis of second-person addressing means in Japanese communication. In practice, unlike Vietnamese, which characteristically uses address terms as a means of politeness, Japanese allows such forms to be omitted and replaced by other linguistic expressions. Meanwhile, Vietnamese speakers, influenced by their mother tongue, may make the mistake of using address forms more than necessary when communicating in Japanese. Therefore, we consider it useful to examine how the ellipsis of address forms occurs in Japanese in order to provide additional reference material for teachers and learners. First, the paper outlines the phenomenon of address forms and the ellipsis of addressing means from the perspectives of linguistic expression and cultural norms. Next, the paper examines several specific expressions in Vietnamese literary works and their renderings in Japanese translations as evidence of this phenomenon. From this, the paper presents several notes for the teaching and learning of Japanese in general, and for second-person address forms in Japanese in particular.
Keywords: ellipsis; second-person address forms; politeness rules; source text; target text
Tài liệu tham khảo:
1. Baresova, I. (2015). On the categorization of the Japanese honorific system keigo. Topics in
Linguistics, (15).
2. Hoàng Anh Thi. (2011). Ngôn ngữ học văn hóa: Nhìn từ tiếng Nhật và tiếng Việt. Trong Kỷ yếu
Hội thảo Quốc tế: Đào tạo và nghiên cứu ngôn ngữ học ở Việt Nam – Những vấn đề lí luận và
thực tiễn (tr. 795–804). Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội.
3. Hoàng Anh Thi. (2021). Mối quan hệ giữa nhân xưng và kính ngữ trong tiếng Nhật – Một biểu
hiện của ngữ pháp – văn hóa (Liên hệ với tiếng Việt). Trong Kỷ yếu Hội thảo “Tư tưởng, tác
phẩm và kỷ niệm Nguyễn Tài Cẩn” (tr. 293–303). Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
4. Hoàng Anh Thi., & Nguyễn Thị Hằng Nga. (2022). Kính ngữ – biểu hiện lịch sự của tiếng Nhật
và tương đương trong tiếng Việt. Ngôn ngữ & Đời sống, (4), 24–31.
5. Nguyễn Văn Chiến. (1992). Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ Đông Nam Á.
Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ.
6. 宮島 敦子. (2018). 文章表現と会話における日本語の主語の省略. 東京外国語大学 留学
生日本語教育センター論集, 44, 133–146. (Miyajima, A., 2018)
7. 文化審議会. (2007). 敬語の指針. 文化庁. (Bunka Shingikai, 2007)
8. 日本語意味解説辞典. (n.d.). Nihongo imikaisetsu jiten. https://nihongoimikaisetsujiten.com/
(Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2024).
9. 東出 朋, & 松村 瑞子. (2016). 呼びかけ語の二人称対称人称詞―談話における特殊な機
能を中心に―. 言語文化論究, 37, 37–50. (Higashide, T., & Matsumura, Y., 2016)
NGỮ LIỆU
1. Ma Văn Kháng. (1986). Mưa mùa hạ. Hà Nội: Nxb Văn học
2. 加藤栄 (Kato Sakae). (1992). 夏の雨 (Natsuno Ame). Nxb Shinjuku Shobou.
3. 高木良 (Takagi Ryou). (1992). 銀行人事部 (Ginkou Jinjibu – Phòng Nhân sự Ngân hàng). 徳
間文庫.
4. ミッシンッグ2024 (Mất tích 2024). https://motchill.nl/mat-tich-2024/tap-full-437906.html.
Truy cập 15/2/2025.


