Tóm tắt: Trong bối cảnh Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 thành phần dân tộc cùng sinh sống, tiếng Việt với tư cách ngôn ngữ quốc gia đóng vai trò trung tâm trong giao tiếp liên dân tộc và trong đời sống văn hóa – truyền thông hiện đại. Quá trình tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ dân tộc thiểu số đã góp phần làm phong phú vốn từ vựng tiếng Việt, đặc biệt ở các lĩnh vực văn hóa, sinh hoạt cộng đồng, tín ngưỡng và địa danh. Tuy nhiên, trong sáng tác âm nhạc, điện ảnh và báo chí, việc sử dụng các yếu tố ngôn ngữ vay mượn từ ngôn ngữ dân tộc thiểu số đôi khi thiếu chuẩn xác về hệ quy chiếu tộc người, dẫn đến hiện tượng lẫn trộn biểu tượng văn hóa, đồng nhất hóa không gian tộc người và sai lệch định danh. Trên cơ sở lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ, ngôn ngữ học xã hội và nhân học ngôn ngữ, bài viết phân tích ba nhóm trường hợp tiêu biểu trong thực tiễn, đối chiếu ngữ liệu cụ thể giữa các ngôn ngữ Tày-Thái, Mông và một số ngôn ngữ khác, từ đó đề xuất yêu cầu chuẩn xác ngôn từ như một tiêu chí khoa học và đạo đức nghề nghiệp trong sáng tác gắn với văn hóa các dân tộc thiểu số.
Từ khóa: tiếp xúc ngôn ngữ; vay mượn từ vựng; chuẩn ngôn ngữ; bản sắc tộc người; ngôn ngữ và văn hóa
Abstract: In the context that Vietnam is a multiethnic nation with 54 ethnic groups living together, Vietnamese, as the national language, plays a central role in interethnic communication and in contemporary cultural and media life. Language contact between Vietnamese and the languages of ethnic minorities has enriched the Vietnamese lexicon, particularly in the domains of culture, community life, beliefs, and place names. However, in music, cinema, and journalism, the use of linguistic elements borrowed from ethnic minority languages is sometimes inaccurate in terms of ethnic referential framework, leading to the mixing of cultural symbols, the homogenization of ethnic spaces, and incorrect naming. Based on the theoretical frameworks of language contact, sociolinguistics, and linguistic anthropology, the article analyzes three representative groups of cases in practice, comparing specific linguistic data among Tày–Thái languages, Hmong, and several other languages. From this analysis, it proposes the requirement of linguistic accuracy as a scientific criterion and a matter of professional ethics in creative works associated with the cultures of ethnic minorities.
Keywords: language contact; lexical borrowing; language norms; ethnic identity; language and culture
Tài liệu tham khảo:
1. Anderson, Benedict. (1983). Imagined Communities: Reflections on the Origin and Spread of
Nationalism. London: Verso.
2. Duranti, Alessandro. (1997). Linguistic Anthropology. Cambridge: Cambridge University Press.
3. Labov, William. (1972). Sociolinguistic Patterns. Philadelphia: University of Pennsylvania Press.
4. Trần Trí Dõi. (2009). Địa danh và những vấn đề Lịch sử – Văn hóa của các dân tộc nhóm ngôn
ngữ Tày – Thái Việt Nam. In trong Kỷ yếu Hội thảo Thái học lần thứ 5/ 2009. Hà Nội: Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội.
5. Trần Trí Dõi. (2015). Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội.
6. UNESCO. (2021). Art of Xòe Thai dance of Viet Nam. Representative List of the Intangible
Cultural Heritage of Humanity. https://ich.unesco.org
7. Vương Toàn & Phạm Văn Lợi (Đồng chủ biên). (2023). Ngôn ngữ các dân tộc Thái-Kađai ở
Việt Nam. In trong Quyển 2: Từ vựng cơ bản các nhóm địa phương dân tộc Thái (10 nhóm).
Hà Nội: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
8. Vương Toàn. (2011). Tiếng Việt trong tiếp xúc ngôn ngữ từ giữa thế kỷ XX // Le vietnamien en
contact linguistique depuis la deuxième moitié du XXe siècle. Hà Nội: Nxb Dân trí.
9. Vương Toàn. (2020). Từ tiếng Kinh trở thành tiếng Việt: Từ “tiếng phổ thông” trở thành “ngôn
ngữ quốc gia”. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, (11), tr. 3-12.
10. Weinreich, Uriel. (1953). Languages in Contact: Findings and Problems. New York: Linguistic
Circle of New York.


